Quay Lại   Yêu Quảng Ngãi > Quảng Ngãi Mến Yêu > Văn Hóa , Lịch Sử
'

Văn Hóa , Lịch Sử Đôi nét về văn hóa và lịch sử hình thành nên Quảng Ngãi đất Mẹ ngoan cường

Những Bài Viết Tương Tự
Ðề tài Người gởi đề tải Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Ảnh quy nhơn sedaok Ảnh Thành Viên 52 25-09-13 03:54 AM
Hương Don Quê Tôi Truyện Đọc 1 09-06-11 03:17 PM
Nỗi khổ lấy vợ”chân dài” Quê Tôi Nhịp Sống 0 03-10-09 09:20 AM
Bờ Xe Nước admin Văn Hóa , Lịch Sử 1 21-06-09 03:48 AM
Ốc hương - món ăn 'quý tộc' của đại dương le quyen CLB Ẩm Thực 0 08-06-09 09:18 AM

Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời
 
Công Cụ Xếp Bài
  #1  
Cũ 25-11-10, 12:05 PM
quangngai_group quangngai_group là offline
Thành Viên Ưu Tú
Gia nhập: Mar 2009
Nơi cư ngụ: Tân Phú
Nguyên Quán: Mộ Đức
Bài gởi: 6,113
Thanks: 41
Thanked 126 Times in 112 Posts
Gởi tin nhắn qua Yahoo tới quangngai_group

Hương ước Làng Quýt Lâm, Phủ Mộ đức

Phả ký tộc HƯƠNG ƯỚC LÀNG QUÝT LÂM, PHỦ MỘ ĐỨC (1937)


Ngày 3 tháng 9 năm Bảo Đại thứ 12

(ngày 6 tháng 10 măm 1937)

Chúng tôi là viên kỳ, lý hương và sĩ thứ, binh đinh làng Quýt Lâm, tổng Ca Đức, phủ Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Kính trình về việc tuân lập hương ước

Nhơn vưng sức về khoản chỉnh đốn hương thôn đại hào mục hội, trong có một tiết rằng, mỗi làng phải chiếu theo trình độ hiện thời mà châm chước những tục xưa lưu truyền lại và chiếu y theo các điều mục trong mỗi tiết, làm thành bản hương ước để trình quan trên xét sức tuân làm.

Chúng tôi tuân xét tục xưa trong làng, tuy không có giấy tờ gì đề lại, nhưng cũng có đôi điều khẩu truyền, chiếu với trình độ hiện thời bây giờ, có điều không tiện làm theo như trước được, vậy xin chiếu theo tiết mục, sắp đặt như sau, mong ơn quan trên thẩm đoán, sức xuống cho làng chúng tôi xin làm, để làm cái hương ước trong làng đời kia sang đời nọ, đặng noi theo đó mà làm.



Nay kính trình.




TIẾT THỨ 1: TOẠ THỨ



Khoản thứ 1: Sở đình hay nhà hội trong làng, nơi căn giữa, thì chức sắc ngồi từng trước, mấy người kỳ lão có danh vọng ngồi từng sau, chức sắc nhượng theo chức hàm, kỳ lão nhượng theo niên xỉ, thủ thứ mà ngồi; còn hai căn tả, hữu thì đều chiếu y theo thứ tự bản hương ẩm danh sách mà ngồi, còn những người đầu ngụ thì toạ thứ và khoản đãi cũng chiếu theo người chánh xã, nhưng chủ trước khách sau đối theo chức phận mà ngồi, chí như mấy người can án phạt giam (hoặc phạt bạc) từ năm tháng trở lên mà thuộc về tư tội thì phải ngồi riêng.



TIẾT THỨ 2: TẾ TỰ


(CÁC LỄ TẾ TỰ ĐỀU TRÍCH BẠC HƯƠNG DỤNG



Khoản thứ 2: Lễ Nguyên đán (tại đình thì cúng trầm, trà, hoa, quả.và bánh, lựa một người kỳ cựu đứng cúng, lễ ấy chi bạc một đồng (1$00), tại nghĩa từ thì dùng gà và xôi, cháo, lựa một người hương chức đứng cúng, lễ ấy chi bạc một đồng năm giác (1$50).



Khoản thứ 3: Lễ tế xuân thủ.

Mỗi năm đến sớm mai ngày 15 tháng giêng, thì tế xuân thủ tại đình, thường dùng một con heo đồ và phẩm vật, lựa một người kỳ cựu đứng vai cứng, lễ ấy chi bạc năm đồng năm giác (5$50).



Khoản thứ 4: Cúng hành khiến và tế Na.

Mỗi năm đến ngày 15 tháng giêng thì dùng một con heo đồ va cờ trống bài trí tại ngoài hè trước đình, lựa một người hương chức hoặc lý trưởng đứng cúng (có đọc chúc văn), lễ ấy chi bạc năm đồng năm giác (5$50)



Khoản thứ 5: Lệ cúng Thượng điền, Hạ điền.

Thường năm hể đến ngày 15 (buổi chiều) tháng ba, thì tế Thượng điền một lần, thường dùng một con heo đồ và phẩm vật, bày dọn tại căn giữa nhà tả bên sở đình, lựa một người kỳ cựu đứng vái cúng: lại đến ngày 15 tháng 10 là kỳ tế Hạ điền thì giao cho mấy người chuyên yển sắm cúng, trong hai lễ ấy thì lễ Thượng điền chi bạc chín đồng (9$00), lễ Hạ điền chi bạc một đồng (1$00).



Khoản thứ 6: Tế xuân (tức là lễ tế kỳ vân).

Thường năm hễ đến ngày 16 tháng 3 thì tế một tiệc, tiệc tế ấy chi bạc hai chục đồng (20$00) có chương trình kê sau:



A) Lựa người dự tế:

Lựa viên tiên chỉ đứng chánh bái, như viên ấy có duyên cớ, thì lựa viên thứ chỉ, nếu viên thứ chỉ ấy cũng có duyên cớ thì lựa một người kỳ cựu có hiền đức, đứng cúng thế cũng được, lại lựa hai người kỳ cựu đứng bồi bái, hai người lý hương đương chức đứng cúng hai bên phân hiến, vàlựa hai người chấp sự (một người đánh trống, một người đánh chuông, với năm người thị lập, rồi niêm yết tại đình, đến kỳ hầu tế.



B) Bài trí sanh phẩm:

Đến kỳ tế thì người tư nghi phải chiếu theo quy tắc mà bài trí sanh phẩm như sau đây:

Tại chánh tẩm: đặt một bò, hoặc một heo toàn sanh, một miếng tộ phương chánh, một cổ xôi, một bàn trầu, cau, rượu và quà phẩm.

Tại tả ban, hữu ban: đặt một đầu heo nơi án tả ban, và một nọng heo nơi án hữu ban. Án nào cũng có kỉnh lòng tộ và xôi cùng quà phẩm.

Tại tiền hiền, hậu hiền, tiến bối, hậu bối, án nào cũng đều đặt lòng tộ và dọn một mâm.



C) Chánh tế:

Trước một ngày tức là ngày 15, giờ mùi, hội tề các hạng viên nhơn tại đình, hương đèn, cờ trống, nhạc, đồ thờ,trần thiết nghiêm chỉnh, đặng rước sắc thần về để tại chánh tẩm giữa đình, qua sớm ngày 16 chiếu theo nghi tiết cúng tế, tế xong rước sắc thần về nhà thủ sắc.



D) Kính biếu và khoản đãi:

Tế xong thì trước kỉnh người đại bái một cái đầu heo, một miếng tộ phương chánh và lòng tộ (hai sườn rưởi), quả phẩm kỉnh hai người bồi bái, mỗi người nữa cái nọng heo và một miếng tộ (hai sườn rưỡi): kỉnh hai người đứng cúng phân hiến và hai người chấp sự và thủ sắc, tư lễ, tuyên chúc, mỗi người một miếng tộ (hai sườn) và lòng: còn tư nghi, xướng sanh, tự thừa nhạc trưởng, mỗi người một miếng tộ (hai sườn): thị lập, hành nghi, và ban nhạc, mỗi người một miếng biếu (một sườn rưỡi) và kỉnh quan thủ chỉ (Văn từ 4-1. võ từ 3-1 trở lên) một cái đầu heo, nếu trong làng nhiều quan cùng chỉ kỉnh một quan thủ chỉ mà thôi, nhưng mà quan thủ chỉ ấy ở ngụ hạt khác xa cách thì cũng giảm phần cẩn, để khỏi bắt dân đi xa xuôi thêm phiền.

Còn trong viên kỳ, đương thứ lý hương ngừoi nào có duyên cớ khiếm diện không đến hầu tế được thì biếu một đĩa chả nem và một đĩa thịt rối, để trọng sự thể, nhưng mà có phân biệt như chức sắc vả kỳ lão có danh vọng mà khiếm diện thì biếu đủ hai dĩa, kỳ giả chỉ biếu một dĩa thịt rối mà thôi.

Chí như việc dọn đãi thì nhất luật đồng nhau, sẽ chiếu theo tọa thứ, cứ thứ khoản đãi, người nào về nhà không tới thì không cần mời nữa, người nào kỉnh khiếm diện rồi mà còm tới thì không cần đãi nữa, khoản đãi xong cả rồi còn dư thịt bao nhiêu thì giao cho đương thứ hương ly liệu định để đền chút công lao.



Khoản thứ 7: Tế nghĩa từ.

Thường năm hễ đến tháng tư hoặc tháng năm thì tế một lần. Trước khi tế một ngày thì chức dịch trong sáu ấp phải án theo địa phận xóm mình mà thân dẫn mỗi ấp 15 tên dân trở lên đi dẫy mã nghĩa lũng, cốt cho khỏi bỏ sót, đến ngày tế (là ngày tốt chớ không nhất định) dùng một con heo đồ và phẩm vật đặt trên đàng nghĩa từ, lựa một người kỳ cửu hoặc lý trưởng hoặc hương chức đứng lạy, lễ tế chi bạc mười đồng (10$00). Khi tế có văn, có cờ, có nhạc nghiêm chỉnh.



Khoản thứ 8: Lễ kỵ tiền hậu hiền.

Thường năm đến ngày 16 tháng 9 thì kỵ giỗ một lần, dùng một con heo đồ và phẩm vật đặt tại hai án tiền hậu hiền (Lê, Huỳnh, Nguyễn, Phạm, tứ phái) trong đình, lựa kỳ cựu hào lý trưởng hoặc hương chức một người đứng vái cúng, lễ cúng chi bạc mười đồng sắp xuống.



Khoản thứ 9: Lễ chạp tiền hậu hiền.

Thường năm đến ngày 24 tháng chạp, cúng chạp một lần, trước ngày ấy là ngày 23 hương dịch dẫn vài tên dân đi đến các mã tiền hậu hiền (tại ấp Vĩnh Yên chớ không biết thuộc về phái nào). Đến ngày 24 sắm một con heo đồ và phẩm vật đặt tại hai án tiền, hậu hiền nơi đình, lựa kỳ cửu hoặc lý trưởng, hoặc huơng chức một người đứng vái cúng, lễ ấy chi bạc mười đồng (10$00) sắp xuống.

Các khoản tế đã nói ở trên, trừ khoản tế xuân, thì phần cẩn biếu đã có định rõ ràng rồi, còn các lễ tế khác thì chỉ kỉnh người đại bái một cái đầu heo, và mấy người dự sự thì mỗi người một lòng tộ heo hoặc một biếu.



Khoản thứ 10: Chùa thờ Phật

Trong làng có một sở chùa (sắc tứ Vạn phước tự) để thờ các vị Phật (hai vị Quan Thánh, một vị Châu Thương, một vị Sơ sanh, 2 vị Trấn Bắc, 2 vị Phật Bà, 2 vị Hộ pháp, 1 vị Quan Bình đều bằng đồng và 19 vị Phật đất), thường năm đến ngày tết, ngày lễ đoan dương, ngày rằm tháng giêng, tháng bảy, tháng mười, ngày vía Phật, ngày lên phướng và ngày hạ phướng, thì người thày chùa ấy liệu sắm đồ chay, và quà phẩm phụng cúng (vì làm ruông chùa, vườn chùa, thâu lấy ba lợi, nên phải chịu các lễ cúng ấy) có hương chức dự lễ, nếu người thầy chùa ấy bất lực, để chùa và vườn dơ nhớp và tượng Phật, ghế thờ, không được sạch sẽ, thì lựa người khác ở phụng sư.



Khoản thứ 11: Lệ kỵ quan Cố Tham tri Trịnh đại nhơn.

Thường năm đến ngày Nguyên đán và ngày kỵ của ngài thì viên, kỳ, hương, lý trong làng đều khăn đen áo dài đem lễ phẩm đến hầu bái yết, để trọng một vị quan lớn trong làng (lễ kỵ thì đi một cặp rượu lớn, lễ Nguyên đán thì một bàn trầu cau và một chai rượu lớn).

Các khoản tế trên đây những người dự sự ai mà thất lễ, thất nghi, thì phạt một bàn trầu, cau, rượu, còn dân có gian lấy vật tế hoặc đồ ăn, thì phạt dịch một ngày và cấm những người tàn tật phong bịnh, nhứt thiết không được đi tới ô uế truyền nhiễm, lây bịnh cho người khác, đã cấm mà không tuân thì giải trình.



TIẾT THỨ 3: KHÁNH ĐIẾU - KHAO VỌNG - HÔN LỄ
Khoản thứ 12: Khánh lễ

Phàm lễ mừng như là: sống lâu, sanh con trai, được thưởng phẩm hàm, thi đậu, cưới vợ và làm nhà mới, bà con suôi gia, bạn hữu tới mừng nhau thì tùy tình, còn như sự lễ tổ (thày thuốc, bói và các nghề thợ, thường vô cớ mà bày tiệc đãi khách, kêu là lễ tổ) thù nguyện (hát bội hoặc làm chay, hoặc tế quan thánh, táo quân, tiên nương, kêu là thù nguyện), đều là việc hiếu sự, thì chỉ số người trong nhà làm lấy với nhau cũng đủ là lễ, chớ cấm không được che rạp dọn tiệc đãi khách, ngày kia sang ngày nọ, phí bậy vô ích.



Khoản thứ 13: Điếu lễ

A/ Trong làng bất cầu là người chánh, ngưởi ngụ, hay nghèo với giàu, hễ có việc tang thì phải liền tường với hương bộ, trước vào bộ tử và sắm trầu cau, rượu làm lễ tới ấp sở tại cáo tang (cáo với làng cũ) hoặc phải cầu xin bao nhiêu dân (cũng có nhà đi mượn tư chớ không phiền đến xóm) thì chức việc trong xóm phải liền sức giáp dịch đi kêu hoặc điểm mục nhóm dân cho đủ số, y kỳ dẫn tới nhà tang trợ sự, sự chủ phải sắm cơm mắm khoản đãi, chớ nhứt thiết cấm không được đãi rượu: đưa chôn xong rồi, thì sự chủ lại mời anh em ấy trở về nhà mà trầu nước đáp lễ, nếu đường xa đi khó nhọc có dọn mời ăn nữa cũng được, nếu người quá cố chết vì bệnh truyền nhiễm thì cấm khoãn đãi, sự chủ tuỳ nhà mình để xét (trừ giàu, phát cho dân mỗi tên bạc bảy xu (0$70 hoặc […] kiểm cố.



B/ Còn bà con suôi gia đến ngày chôn có đem phẩm vật, tiền bạc đến phúng điếu nhau thì tuỳ tình sở hảo, chí như người làng xóm đối với người chết ấy là người danh sắc, phẩm vọng hoặc là người già cả (đàn ông, đàn bà cũng vậy) thì viên, kỳ, hương, lý phải liền nhóm nhau trích lấy số tiền hương dụng từ ba giác (0$30 đến một đồng năm giác (1$50), sắm đồ đến đi điếu và đưa đi đến huyệt, chôn cất xong sẽ về; như người chết ấy là hạng người tầm thường sắp xuống thì ủy cho bốn, năm người hương chức đi thế, (trước đi thăm sau đi điếu) hoặc giúp cho tiền bạc, việc xong đều không được sách lễ tạ; còn những người đi điếu, người nào ở xa có muốn ở lại đưa đám, thì sự chủ chỉ dọn bữa cơm thường mà thôi, chí như người trong làng (nói cả khách khứa và làng xóm) chỉ dùng trầu nước đáp lễ, chớ nhứt thiết không được dọn tiệc ra mà khoản đãi.



C/ Lại như cách thức đưa đám, thì chỉ ấp sở tại tùy theo bực người mà đưa, một cái kiểng hay là tiểu cổ, thứ nửa vài cặp cờ trắng là đủ, chớ làng và các ấp khác giảm đưa cờ trống như trước nữa: còn nhà tang gia thì dùng nhà phủ mộ, minh sinh đơn triệu, và công bố đưa đám, chớ cờ đỏ, âm nhạc, trống lớn, chuông lớn, phương tướng, minh khí các hạng đều đừng dùng nữa.



D/ Tuần giáp năm, tuần ba năm, các kỳ tuần ấy chỉ người trong nhà và bà con, suôi gia xúm xít lại làm lễ là được, chớ không nên bày tiệc khoản đãi, cũng không được lạm dụng cờ trống và âm nhạc.



Khoản thứ 14: Khao vọng

Lễ khao của làng, thì khoản thứ 4 đã nói rõ ràng rồi, chỉ lễ khao ở các phái họ và cúng quan sát, cúng đàn dưới, nhương sao, đảo hạng thì bất đắc dĩ phải theo tục, cho mời một thày pháp, gà xôi vái cúng, còn như mời nhiều thầy pháp đánh trống gõ la, bày lập đàn trường ra, thì nhứt thiết nghiêm cấm, hễ người nào không tuân, giải cả người và tang vật trình quan nghĩ trị.



Khoản thứ 15: Hôn lễ

Phàm gã con lấy chồng, hoặc cưới vợ cho con chiếu theo Hoàng Việt Hộ Luật quyển thứ nhứt điều thứ 68 (từ lễ ước hôn đến khi cưới, như không có duyên cớ gì thì không được quá sáu tháng v.v..) và điều thứ 73 (con trai 18 tuổi tròn, con gái 15 tuổi tròn mới được cưới gả) mà tuân làm, cánày phổ tùy hai nhà trai gái chiếu theo sự thuận tiện điều đình với nhau, miễn là nhà gái không được yêu sách nhà trai. Còn đồ nữ trang nữ phục, tự ý nhà trai, nhà gái điều đình với nhau mà liệu sắm, nhưng nhà gái không được yêu sách: còn đồ hành trang như: xe ngựa, xiểng, cọ cũng tùy hai bên sở nguyện với nhau, lại tiền nát và tiền cheo thì đình bãi, nhưng mà cưới người làng khác thì phải theo cái tục riêng của làng sở tại người ta.



TIẾT THỨ 4: CẦM PHÒNG
(VIỆC ĐỘNG TỊNH, TRỘM CƯỚP, CANH GIỮ BA LỢI)



Khoản thứ 16: Động tịnh

A/ Trong làng mỗi ấp hoặc liên ấp, tùy theo địa thế, đều lập một sở chòi canh tại chỗ yếu lộ, mỗi đêm (trừ khi nào vâng sức canh ngày thì không kể) dân canh (phải chiếu theo nhơn số cường tráng chánh ngụ trong ấp, phân phiên bắt canh và biên tên họvới phiên canh đêm nào, phóng trừ luân giao cho nhận làm) phải có gậy, dây tới canh, hương kiểm và chánh phó xã đoàn, phải thường hay kiểm xét (trừ cựu hương chức trong ấp như hương dịch, thập đoàn, thủ bổn, dịch mục, kiểm cố ngoại) hễ gặp người dị hình, dị diện (không biết tên và chỗ ở) đi ngang qua thì dân canh phải liền triệt ở tại đó, rồi tức tốc tường với hương kiểm xã đoàn liền tới đó, gạn hỏi và xét người ấy, như có giấy căn cước, thông hành mà không có sự gì nghi ngại thì cho đi, nếu như có điều gì nghi ngại, hoặc không có bài chỉ, thì bọn hương kiểm, xã đoàn phải lập tức hiệp đồng với lý trưởng giải trình; còn dân canh không duyên cớ gì mà tự tiện bỏ canh; lần đầu thì đòi đến la rầy, lần thứ nhì thì phạt dịch một ngày, lần thứ ba thì trình quan trị tội, bọn hương kiểm xã đoàn, không hết chức trách, đáng tường báo mà không tường báo, thì hội đồng gia quan trình nghĩ.



B/ Các nhà tư trong làng, hễ có người nào ở khác tới ở lại nghỉ đêm, thì dẫn tới trình với lý hương cho biết, rồi bọn lý hương ấy hỏi xét cách thức đều y như trên (trong khỏan A) đã nói: nếu người chủ nhà nào thuận tiện để cho ở mà không tường báo thì phạt trầu, cau, rượu một bàn, lần thứ hai thì phạt ba giác (0$30) sung công.



C/ Hễ gặp việc quan việc làng khẩn yếu, như phong trào náo động, nghiêm sức canh tuần, hoặc phòng hoả tai, giúp việc tang v.v… thì mỗi ấp tối lại sức trùm đánh mõ ba hồi, trong ấp bất cầu chánh hay ngụ (trừ quan viên sẽ trình ngoại) đàn ông từ 16 tuổi đế 60 tuổi phải đến đông đủ (mỗi nhà một người cũng được) tại sở chòi canh, hoặc tại nhà hương chức trong ấp (nghe mõ đánh thì biết) rồi người chức việc trong ấp kêu tên kiểm diện (tục kêu điểm mục) để biết người nào hiện diện; còn người nào có duyên cớ gì không tới được thì biểu người tới cáo khiếm diện, truyền cáo xong rồi, thì đều tản về nhà, người nào không cáo mà tự tiện thiếu mặt, hương chức phạt một giác 0$10, dân phạt dịch nửa ngày.



Khoản thứ 17: Trộm cướp

A/ Người nào thình lình bị ăn trộm cướp la lối, người nhà gần bên phải tức thời đến tiếp, hương kiểm cũng phải liền tới đó dẫn dân theo bắt, và khám xét như bắt được bợm thì bắt cầu là đã lấy được của hay chưa đều phải hiệp đồng với lý hương giải cả người và tang vật trình xét, nếu không bắt được mà hiện có thiệt trạng cũng bất cầu là đã được của hay chưa đều phải đem sự trạng trình xét.



B/ Hễ nhà ai bị ăn trộm mất đồ vật gì, mà sự chủ vẫn biết đồ ấy hiện chứa tại nhà nào, thì phải chiếu theo tục cũ, lập tức tường với chức việc sở tại, thị thiền cho soát xét, như xét được quả tang, khinh thì phân xử, trọng thì giãi trình.



C/ Trong làng mấy tên phạm can án ăn trộm, ăn cướp đêm nào cũng phải đến chòi canh mà nằm, như quả có bịnh hoặc trở việc nhà, thì phải tường với hương kiễm, xã đoàn biết, nếu tự tiện ở nhà ngủ không tới chòi canh mà nằm, ban đầu phạt dịch một ngày, lẩn thứ hai giãi trình



Khoản thứ 18: Canh giữ ba lợi



1) Bán lúa rụng và phòng cái tệ vịt:

A/ Bất cầu mùa nào hễ gặt được nữa đồng thì làng xin phép quan đấu giá lạc túc, hễ ai đấu cao thì được mua đồng thả vịt nhưng viên, kỳ, lý, hương phải tới nhóm trước đông đủ, rồi tại tọa hội đồng định giá (tùy theo năm được mùa, mất mùa mà định, nhưng mùa tháng ba từ ba chục đồng (30$00) đến năm chục đồng (50$00), mùa tháng tám từ hai chục đồng (20$00) đến ba mươi lăm đồng (35$00), và định ngày thả vịt xuống đồng ( lúa gặt cho được 2 phần 3), rồi chủ vịt làm tờ kỳ hạn thả vịt (từ ngày thả vịt đến lúc ruộng đã bừa thì thôi) giao cho lý trưởng giữ, xong rồi đánh mõ rao cho điền hộ biết.



B/ Bạc mua đồng thì ngày định giá ấy phải nạp cho đủ, như lo chưa kịp thì phải trước ngày thả vịt một ngày nạp đủ mới được thả vịt vào đồng, nếu không tuân thì giao cho bọn khoán vây bắt, liền tường với lý hương trừng trị, nếu bọn khoán vị tình dung túng thì phat bạc một đồng (1$00) sung công.



C/ Ai mà không tuân kỳ hạn mà tự tiện thả vịt đạp phá ăn lúa thì giao cho bọn khoán vây cả bầy vịt lại, phải tường với lý hương xét quả tang chứng, trừ chiếu tang bồi thường ngoại, cứ vịt mỗi con phạt bạc năm xu (0$50) tuy số vịt nhiều cũng chỉ phạt ba đồng (3$00) mà thôi, vịt trả cho nguyên chủ, hể ngạnh thì trình nghĩ, số bạc phạt ấy một nửa sung vào công qũy, một nữ thưởng cho bọn khoán.



2) Khoán đồng

A/ Dịch mục sáu ấp (bất lực thì lựa người khác không được viện lẽ) thường năm lúa gần chín thì bọn khoán ấy phải thường hay tuần phòng đứa gian trộm, với, trâu, bò, heo, vịt cùng bọn làm nghề cá, hủy phá và đạp ăn hư hại, thâu hoạch xong rồi thì bọn khoán tới chủ ruộng, cứ mổi mẫu thâu hai ương, lúa công (trừ xứ Lỗ Tràm ngoại, hiện còn 500 mẫu, khi nào đạc điền trưng thâu thành bộ có quản thắng nhiều lắm, thì lúa công ấy sẽ tục đơn xin cải cách), thâu xong, lượng nạp bốn trăm ương (400). (bọn khoán ấy kiêm sung làm khoán cấm nên cho lượng nạp số bấy nhiêu, mùa nào mất mùa thì bọn khoán ấy tường với hội đồng chước giảm), sung làm hương dụng, còn bao nhiêu trả công cho bọn khoán, nếu bọn khoán ấy sở hành bất lực, để cho điền hộ cáo báo, thì bọn khoán ấy phải sung bồi, như bồi không đủ làng hay được thì trách phạt.



B/ Lâm thời bắt được gian phạm, phải tường với lý hương cùng tài chủ tới đó khám xét, quả là ăn trộm ban đêm, thì bất cầu tang số nhiều ít đều giải trình cả.



Còn như ăn cắp vặt ban ngày, thì tang vật giao cho chủ ruộng, đứa phạm ấy phạt bạc bốn giác ( 0$40), lần thứ hai gia bội, ngạnh hay tang số đến hai đồng (2$00) sắp lên thì cũng giải trình; còn trâu, bò, heo ăn phá trừ định giá sức bồi ( nếu không bắt được thì bọn khoán chịu bồi) ngoại, sức chủ chịu phạt trâu, bò, mỗi con phạt bạc một giác (0$10), trâu bò nghé phạt bạc năm xu (0$05), mỗi con heo phạt bạc năm giác (0$50), heo con phạt bạc hai giác (0$20).



Bạc phạt ấy như bọn khoán ấy bắt được thì cho bọn khoán ấy nhận dụng, tài chủ bắt được thì bạc phạt sung công, lúc nghĩ phạt, phải xét cho kỹ, như quả sức chủ dụng tâm thả ăn, mới chịu trách phạt, còn như tạm thời nhảy chuồn buôn ra và đực cái chạy bậy, tài chủ hiện theo bắt chưa được, với heo con chưa biết ăn rau thì chỉ bắt bồi thường ba lợi chớ khỏi phạt.



C/ Người điền hộ nào gặt lúa chưa rồi, hoặc đã rồi mà lúa rạ và đồ đạc đem về chưa kịp, thì nên tường giao cho bọn khoán nhận giữ, sáng ngày sau đến nhận gánh về, nếu thất soát thì bọn khoán sung bồi, còn điền hộ muốn tự giữ lấy cũng phải tường cho bọn khoán biết.



D/ Người điền hộ nào không chịu đong lúa khoán, thì bọn khoán phải tường với hương chức sức trả và trách phạt bạc ba giác (0$30) để sung công ngạnh thì trình nghĩ.



E/ Khi nào lúa đã cấy rồi, thì cấm không được thả lờ, thả trúm, đào hang, mò ốc, bắt cá trong ruộng, làm hư lúa, hễ người nào không tuân, làm cho điền hộ báo cáo thì trách phạt bạc hai giác (0$20) sức thâu đồ làm cá đem về.



3) Khoán rẫy

A/ Mỗi ấp hoặc liên vài ấp, thì đặt một tên tuần trưởng, ba tên tuần đinh (bất cầu chánh ngụ) người nào không có duyên cớ chính đáng mà ngạnh không chịu làm, thì trình quan nghĩ trị, làm khoán thấu đủ ba năm mới được thôi, châu hạn rồi mà nguyện làm lại cũng được.



B/ Tuần trưởng phải thường hay đi sức bật tuần đinh canh giữ ba lợi bốn mùa (và kiểm cố hàng rào từng khoảnh đất đừng cho súc vật ăn phá) về phần đất trong xóm (trừ vườn ở ra) mỗi năm thâu ba lợi rồi. Thì thâu một lần tiền công, cứ như đất tỉa được mười ương đậu (lúc nào sự đạc điền xong trưng thâu thành bộ thì tiền công ấy tục đơn xin cải chánh) hễ ba lợi hai mùa thâu tiền sáu quan, một mùa thâu tiền ba quan, cho bọn khoán ấy nhận dụng, nếu bất lực phải sung bồi, như bồi không sung, sau làng hay được thì trách phạt (còn người chủ đất nào không chịu trả đủ tiền lệ (có ở trên) thì trích tường với hương chức trong ấp sức trả và trách phạt ba giác (0$30) sung công, ngạnh thì trình nghĩ.



C/ Lâm thời bắt được gian phạm hoặc súc vật hủy phá và ăn ba lợi, thì sức trách phạt chiều theo đoạn (B) (Khoán đồng) trong khoản này thi hành, còn người nào tới chỗ trồng trọt mà hái ăn các thứ rau, và các thứ trái, xét quả nó bức vì nghèo đói, chớ không phải người gian thì khỏi phạt.



TIẾT THỨ 5: CÔNG ÍCH CÔNG LỢI
- Vệ sinh công cộng - Sửa sang cầu đường

- Công việc vệ nông - Cứu tai truất nạn

- Học hành giáo dục - Bảo vệ lâm cấm

- Ruộng đất của làng - Đặt thêm chức làng

- Chiêu tập hội đồng



Khoản thứ 19: Vệ sinh công cộng

Từ rày về sau bắt bọn tuần đinh, mỗi ấp sung làm lộ phu, phàm những việc gì có quan thiết đến sự vệ sinh, thì đều do bọn lộ phu chiếu theo chương trình sau đây kiểm cố, nếu hư ứng thì trách phạt.



A/ Phàm giếng uồng chung với nhau, cốt yếu phải cho được sạch sẽ, cấm không ai được giặt áo, quần và đàn bà con gái không được tắm rửa bên giếng, bất tuân thí phạt hai giác 0$20)



B/ Phàm trâu, bò bịnh chết thì tài chủ phải liền khiêng tới chỗ đất không, xa cách nơi xóm làng, tường với hương lý thị thần cho chôn, mà phải chôn cho sâu được hai thước tây, xa nhà ỡ và giếng. Người nào bất tuân lén làm thịt ăn, hoặc tự tiện chôn lấy, với chôn sơ sài để cho bộc lộ ra thì phạt bạc một đồng (1$00) sức chôn lại cho sâu. Còn như chó, heo, dê, gà, mèo, vịt bịnh chết cũng đều phải chôn cho sâu, xa nhà ở và giếng, nếu lén làm thịt ăn, hay là đem ném bỏ trên mặt đất, dưới nước, trong cấm, trong bụi thì phạt bạc hai giác (0$20) sức phải chôn lại cho sâu, nếu không bắt được nguyên chủ thì bọn lộ phu phải chôn, bạc phạt ấy sung thưởng cho bọn lộ phu, ngạnh thì dều trình nghĩ.



C/ Những người đi (trong làng) với gần hai bên đường, người nào lén bỏ đồ dơ uế (như cỏ, rác, gai góc, nồi trách bể, chén dĩa bể, chiếu manh, giẻ rách v.v…) và phóng uế mà lộ phu bắt đươc thì liền bắt người ấy dọn ngay, hoặc đốt đi, và cào quét cho sạch (như con nít thì bắt cha mẹ nó, hoặc anh nó làm thế) với phạt dịch một ngày, như con nít mà cha hay anh nó làm thế phạt, thì phạt nửa ngày, còn lộ phu bắt không được thì tự dọn làm lấy.



Khoản thứ 20: Sửa sang cầu đường

A/ Trong làng có một con đường tư ích, nam giáp làng Văn Hà, bắc giáp làng Đạm Thủy, dài hơm 1000 thước tây, lại có một con đường phía đông từ chán ba ấp Phú Lộc, phía tây bắc giáp làng Đôn Lương dài hơn 2000 thước tây, theo trước người xưa chiếu theo địa giới sáu ấp, trong làng án phần chia mỗi ấp một phần, thường năm trong lúc tháng sáu, hoặc tháng bảy lệ có vâng sức tu bổ một lần, ấp chức hiệp đồng với hương mục, sức bắt công dân tư ích lưu hương chiếu y cách thức (diện 3 thước tây) án phân mà đắp, còn như mấy chỗ nhỏ nhỏ, thì trùm xóm bắt dân vài tên tự đắp lấy, ấp nào khoán phế không chịu tu bổ, có xảy ra sự gì biệt ngại (quan trên quở phạt v.v..) thì ấp ấy phải chịu trách nhiệm đó.



B/ Trong làng mấy con đường đi tắt, hiện đều nhỏ hẹp, đi đứng còn ngại lắm, mỗi năm hễ đến tháng hai thì mỗi ấp bất cầu là chánh ngụ và dân nội tịch, ngoại tịch, bắt cả đi sửa đắp lại một lần, đều rộng cho được hai thước tây để đi đứng cho tiện.



C/ Lại có một đoạn đưởng mới đắp, phía đông từ chợ làng, phía tây giáp sông, dài 1000 thước tây, mỗi kỳ tu bổ, hương mục dẫn hết thảy dân tư ích đi đắp



D/ Mấy con đường đã nói trên đây, người nào lấn phá, hoặc đào mương trên mặt đưởng, thì phạt bạc năm giác (0$50) sức đắp lại như củ, ngạnh thì trình nghĩ (chủ ruộng cuốc đỡ tháo nước mà để vậy không đắp lại cũng phạt năm giác 0$50) muốn đem mương nước qua đường, phải làm cống đặt lù.



Người nào ở xa cách, hoặc thường đi buôn bán không đi đắp được, mà tự nguyện mỗi ngày đại nạp hai giác (0$20) cũng cho, nhưng cốt người ấy phải đăng biên nguyên nạp mấy ngày số bạc bao nhiêu ký áp minh bạch, chớ không được yếu sách, dịch mục ấp ấy thâu nhận số bạc đó, rồi thuê mướn người làm thế, chớ không được tiêu riêng đi.



Khoản thứ 21: Công việc vệ nông



1) Việc đắp đậy:

A/ Mỗi năm ngày 19 tháng 9 cử một người yển trưởng, hai người chuyên yển (không cầu chánh ngụ) đốc sức về việc đập, một người giáp đập để sai sử, kỳ hạn đều ba năm, chiếu theo chương trình sau này mà làm.



B/ Trong làng có sáu cái đập và bờ cản, diện tích cái đập và đồng niên nhơn công vật liệu hai kỳ đắp (tháng 10 năm nay một kỳ, tháng tư năm sau một kỳ) phí tổn bao nhiêu có bản kê trù sau này:

Tên đập
Bề sâu
Bề dài
Diện
Bạc phí đồng niên
Tháng 10
Tháng 4

Ông Vệ
2,00 m
5,50 m
2,50 m
12$00
10$00
2$00

Đập Cái
1,50 m
12,70 m
1,50 m
12$00
8$00
4$00

Cửa Diến
1,50 m
10,20 m
2,00 m
13$00
10$00
3$00

Bờ Dài
1,00 m
11,00 m
1,00 m
7$00
5$00
2$00

Đập Mới
1,00 m
10,00 m
1,00 m
4$00
2$00
2$00

Bờ Be và bờ Bầu Âu

20,00 m

5$00
3$00
2$00




Số kê trên cộng bạc năm mươi ba đồng (53$00).



C/ Mỗi năm tháng mười bọn chuyên yển tựu tại nhà hội chiếu theo bộ đập, hiện ruộng chịu đập hai mùa là hai trăm tám mươi mẫu (280) thâu được bạc,một trăm mười hai đồng (112$00), mỗi mẫu thâu bốn giác (0$40), ruộng một mùa chín mươi mẫu (90 mẫu), thâu được bạc là mười tám đồng (18$00), mỗi mẫu hai giác (0$20),

Tổng cộng được bạc là một trăm ba mươi đồng (130$00), thâu rồi giao cho hương bổn trước chi thâu sách, trích ra mười hai đồng (12$00) biên vào sổ công để sắm phẩm vật cúng lễ Thượng điền và Hạ điền và trích ra năm mươi ba đồng (53$00) giao cho yển trưởng nhận giữ, để đồng niên hai lần mua vật liệu đắp các gian đập (phải chừa cống), còn lại bạc sáu mươi lăm đồng (65$00) giao cho mấy người coi yển đồng niên ăn uống và công mệt nhọc, nếu người điền hộ nào quá kỳ hạn trong 20 ngày mà chưa nạp thì chiếu theo số nguyên thâu bội lên một nữa (như số nguyên 0$20 thì thâu 0$30), ai ngạnh thì trình quan nghĩ xử, còn sự canh đập và vét mương thì bọn chuyên yển phải sức điền hộ tự làm lấy.



D/ Về sự vét mương thì mỗi năm tháng ba gặt rồi, bắt điền hộ người nào có ruộng chịu đập phải đi vét, đặng nước lưu thông, người nào không đi vét, đánh thiếu một ngày ( tuỳ số ruộng nhiều ít định số ngày) bạc hai giác (0$20), còn người điền hộ nào bỏ canh, thì mỗi phiên bắt phạt bốn giác (0$40) (đồng phiên chịu chung).



Bạc phạt trên đây đều giao cho bọn chuyên yển nhận làm, nếu bị ai tháo trộm đập đến nỗi nước khô, thì bọn chuyên yển phải tường với lý trường, tới nơi coi quả, bắt phạt một đồng (1$00) (trừ bọn tháo trộm đông người, sức mình chống không nổi thì khỏi phạt) còn đứa tháo trộm bắt phạt ba đồng (3$00) để sung làm bạc mua nước, ai ngạnh thì trình quan nghĩ trị; còn trong mấy đàng mương, cấm không ai được cấy, nếu không tuân thì phạt bạc một đồng (1$00) và thâu ba lợi sung làm công quỹ.



Mương Cây Gáo phía Bắc giáp làng Đôn Lương, phía nam giáp mương Cửa Khẩu, người điền hộ nào cản triệt, đến nỗi nước không chảy thấu Bầu Tròn thì phạt bạc năm giác (0$50) để thưởng cho người bắt được người cản triệt; còn xứ Cỏ Gừng được cản mương Cửa Khẩu, mỗi kỳ cản là một ngày một đêm.



2) Mua nước

A/ Mỗi kỳ cuối

nguồn http://www.vietnamgiapha.com


Thu nhỏ Lấy tin từ YQN đưa vào Website, Blog của bạn Các bài đã đăng
Quảng Ngãi
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Dành Cho Nhà Tài Trợ
  #2  
Cũ 14-09-11, 07:24 PM
congkid_moduc congkid_moduc là offline
Thành Viên Nhiệt Tình
Gia nhập: Jan 2011
Nơi cư ngụ: Đà Nẵng
Nguyên Quán: Mộ Đức
Bài gởi: 106
Thanks: 0
Thanked 2 Times in 2 Posts
Gởi tin nhắn qua Yahoo tới congkid_moduc
Huong uóc Làng Quýt Lam Phủ Mọ dúc
Hương ước Làng Quýt Lâm, Phủ Mộ đức
Tìm kiếm Tuỳ chỉnh

làng QUÝT LÂM bây giờ là thôn LÂM THƯỢNG xã đức phong huyện mộ đức
__________________
Mỗi người bạn tốt đều từng là một người xa lạ!!Được Đấy
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Những bạn đã Cảm Ơn congkid_moduc Vì bài viết hữu ích
admin (14-09-11)
  #3  
Cũ 14-09-11, 09:36 PM
Avatar của admin
admin admin là offline
Điều Hành Viên
Gia nhập: Jul 2008
Nơi cư ngụ: Sài Gòn
Nguyên Quán: Mộ Đức
Bài gởi: 1,216
Thanks: 120
Thanked 77 Times in 57 Posts
Gởi tin nhắn qua Yahoo tới admin Gởi tin nhắn qua Skype™ tới admin
Huong uóc Làng Quýt Lam Phủ Mọ dúc
Hương ước Làng Quýt Lâm, Phủ Mộ đức
Tìm kiếm Tuỳ chỉnh

cảm ơn thông tin nhé Chúc Mừng
Trả lời ngay kèm theo trích dẫn này
Gởi Ðề Tài Mới Gửi trả lời


Loading
Seen on Facebook Friends
Những Bài Viết Tương Tự
Ðề tài Người gởi đề tải Chuyên mục Trả lời Bài mới gởi
Ảnh quy nhơn sedaok Ảnh Thành Viên 52 25-09-13 03:54 AM
Hương Don Quê Tôi Truyện Đọc 1 09-06-11 03:17 PM
Nỗi khổ lấy vợ”chân dài” Quê Tôi Nhịp Sống 0 03-10-09 09:20 AM
Bờ Xe Nước admin Văn Hóa , Lịch Sử 1 21-06-09 03:48 AM
Ốc hương - món ăn 'quý tộc' của đại dương le quyen CLB Ẩm Thực 0 08-06-09 09:18 AM


Đang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Những thành viên đã đọc bài này : 10
admin, banana_7792, congkid_moduc, Duc, haunhadat01, huntkey, nguyenletu, phuongmai0390, quangngai_group, tuangiang87
Công Cụ
Xếp Bài

Quyền Hạn Của Bạn
Bạn không phải được quyền gởi bài
Bạn không phải được quyền gởi trả lời
Bạn không phải được quyền gởi kèm file
Bạn không phải được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Hình Diễn tả đang Mở
[IMG] đang Mở
Mã HTML đang Tắt
Chuyển đến

Diễn Đàn | Music Box | Album Music | Ca Sĩ | Yêu Quảng Ngãi - Văn Hóa , Lịch Sử - RSS Feed

Tất cả thời gian được tính theo GMT +7. Bây giờ là 11:38 PM.

Quảng Cáo
 
 
Founded by Quảng Ngãi Group
Developed by YQN's members
Host by www.nguoiquang.net
Hỗ Trợ Trực Tuyến Yahoo:
Quản Trị Viên Điều Hành Viên Thông Tin - Liên Lạc
Powered by: vBulletin 3.6.8
Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.