Tên đường phố là tấm bia sống động về những con người, những sự kiện, những địa danh tiêu biểu từng có vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc, lịch sử một vùng đất. Cũng như các đô thị khác trên cả nước, tên đường thành phố Quảng Ngãi đã vài lần thay đổi và đặt tên mới cho phù hợp với chuyển biến lịch sử và thể chế chính trị từng thời kỳ. Chẳng hạn, sau ngày thống nhất đất nước, tên đường là các nhân vật nhà Nguyễn không còn thích hợp nữa, đã bị xoá bỏ và đặt tên mới. Gần đây, sau quá trình mở mang và chỉnh trang đô thị, Hội đồng Nhân dân tỉnh đã ra nghị quyết đặt tên cho 80 con đường tại thành phố Quảng Ngãi(1), nâng tổng số con đường được đặt tên ở đây lên đến 124.
Bài báo này thống kê tên đường Quảng Ngãi theo phương thức đặt tên, chú ý đến tính thời đại và tính khu vực của tên đường. Chúng tôi cũng thảo luận một số nguyên tắc đặt tên với những trường hợp cụ thể. Từ một vài con số và nhận xét này, chúng ta dễ dàng nhìn nhận các vấn đề nảy sinh mà không thể không lưu tâm khi đặt tên đường trong những đợt tiếp theo.
1. Trước hết, xin vài dòng giải thích tiêu chí phân loại sử dụng trong bài viết để bạn đọc theo dõi dễ dàng hơn. Về phương thức đặt tên, tên đường Quảng Ngãi có thể khái quát thành ba bộ phận cấu thành sau đây :
- Nhân danh : Tên nhân vật lịch sử như Quang Trung, Nguyễn Thuỵ.
- Sự kiện lịch sử : Tên sự kiện lịch sử như Cách mạng Tháng tám, Mười bốn Tháng tám.
- Địa danh : tên đất, tên sông, tên núi … gắn với sự kiện lịch sử như Bạch Đằng, Vạn Tường.
Về thời đại, căn cứ vào thời gian các nhân vật hoạt động, niên đại xảy ra sự kiện, chúng tôi sắp xếp tên đường theo ba giai đoạn lịch sử.
- Cổ trung đại : Trước năm 1858 khi người Pháp bắt đầu đánh chiếm Việt nam.
- Cận đại : Từ năm 1858 cho đến trước năm 1930 là năm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Hiện đại : Từ năm 1930 cho đến những năm tháng gần đây.
Dĩ nhiên, sự phân chia này chỉ đảm bảo mức chính xác tương đối. Với những người có hoạt động vắt ngang qua một trong những mốc lịch sử kể trên, chúng tôi dựa vào hành trạng nổi bật và chủ yếu mà xếp họ vào một giai đoạn lịch sử mà thôi. Như chí sĩ Phan Bội Châu, chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng đầu thế kỷ XX (sau khi thi đậu giải nguyên năm 1900) cho đến khi bị an trí ở Huế năm 1926 và bị cách ly khỏi thực tế đấu tranh của dân tộc trong 15 năm cuối đời (mất năm 1940), được xếp vào thời cận đại. Như Nguyễn Nghiêm, mặc dù mất năm 1931, ngay sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời nhưng tên tuổi ông được ghi trong sử sách với tư cách là một chiến sĩ cách mạng vô sản, được xếp vào thời hiện đại.
Về tính khu vực, chúng tôi xếp tên đường thành hai nhóm :
- Nhóm gắn với lịch sử dân tộc là những nhân vật, những sự kiện, những địa danh ít nhiều liên quan đến lịch sử chung của cả nước.
- Nhóm gắn với lịch sử địa phương là những nhân vật, những sự kiện, những địa danh của hoặc thuộc về Quảng Ngãi.
Thực ra, ranh giới giữa hai nhóm này không lấy gì làm rạch ròi, ngoại trừ chỉ dẫn mà chúng tôi dùng để phân biệt là nguyên quán của nhân vật, nơi xảy ra sự kiện (Quảng Ngãi hay địa phương khác của cả nước). Theo tiêu chí phân loại này, sẽ có những trường hợp không thoả đáng. Như Phạm Văn Đồng, mặc dù được xếp vào nhóm gắn với lịch sử địa phương nhưng ông không chỉ là niềm tự hào riêng của quê hương Quảng Ngãi mà còn là niềm tự hào chung của cả nước. Như Phan Thái Ất (nguyên quán Nghệ An) được xếp vào nhóm gắn với lịch sử dân tộc nhưng tên ông được đặt cho một con đường ở Quảng Ngãi hôm nay chủ yếu là do những hoạt động của ông gắn với vùng đất này vào những năm 1930-1931(2).
Nhấn mạnh tính địa phương của các vấn đề lịch sử chúng tôi không nhằm xác định vị thế của nhân vật, tầm quan trọng của biến cố lịch sử mà chỉ quan niệm đơn giản rằng những nhân vật đó, những sự kiện đó là của hoặc thuộc về Quảng Ngãi. Ngay cả những nhân vật có nguyên quán là Quảng Ngãi nhưng sự nghiệp gắn liền với vùng đất khác (như Trương Định) không thể không thừa nhận sự nghiệp đó có một phần ảnh hưởng của Quảng Ngãi.
2. Để tiện trình bày hệ thống tên đường Quảng Ngãi, chúng tôi theo tiêu chí phân loại kể trên lập bảng thống kê sau đây :
Ghi chú : *Các số trong ngoặc là tỉ lệ

của từng phương cách đặt tên và chú ý đến tiêu chí lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương.
Theo bảng thống kê, chỉ có năm con đường mang tên các sự kiện (Ba mươi Tháng tư, Cách mạng Tháng tám, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Mười bốn Tháng tám và Trà Bồng Khởi nghĩa) và sáu con đường mang tên các địa danh (Bạch Đằng, Bắc Sơn, Đống Đa, Điện Biên Phủ, Ba Gia và Vạn Tường). Hai kiểu đặt tên dựa vào sự kiện và địa danh chiếm tỉ lệ rất thấp (8,94%), còn kiểu đặt tên dựa vào nhân danh chiếm tỉ lệ rất cao (91,06%), cao hơn so với Thành phố Hồ Chí Minh (73%) và cao hơn rất nhiều so với Hà Nội (39%)(3). Như cách giải thích của Lê Trung Hoa, trong Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, nhân danh chiếm tỉ lệ cao trong hệ thống tên đường của một địa phương là do vùng đất đó không có nhiều di tích lịch sử, không có nhiều biến cố lịch sử vẻ vang để đặt tên đường(4).
Một điều đáng lưu ý là không có địa danh văn hoá nào được dùng để đặt tên đường. Như địa danh Cẩm Thành quen thuộc đi vào thơ văn, tâm trí của bao người dân xứ Quảng. Cẩm Thành vốn chỉ thành Quảng Ngãi được bắt đầu xây vào năm 1807(5) và dần dần trở thành mỹ danh và biểu tượng của Quảng Ngãi. Nên chăng chọn một con đường nằm trong khu vực thành Quảng Ngãi xưa kia đặt tên Cẩm Thành như lưu giữ một cái tên chứa đựng trầm tích văn hoá lịch sử đáng tự hào này ?
3. Là người Quảng Ngãi, chúng ta có niềm tự hào chính đáng về các nhân vật của quê hương. Theo lẽ tự nhiên, câu hỏi có thể đặt ra ở đây là có bao nhiêu nhân vật địa phương trong hệ thống tên đường. Và những khuôn mặt này có bao quát hết dòng chảy từ quá khứ đến hiện tại?
Bốn mươi nhân vật Quảng ngãi được đặt tên đường bao gồm hai vị tướng Tây Sơn (cổ trung đại, 5%), 19 chí sĩ yêu nước chống Pháp (cận đại, 47,5%) và 19 chiến sĩ cách mạng vô sản (hiện đại, 47,5%). Tất cả đều là những người với những cống hiến nổi bật trong lĩnh vực chính trị, quân sự.
Sao không khỏi băn khoăn khi không thấy người Quảng Ngãi nào được đặt tên đường với tư cách là tác gia văn hoá. Thực ra, có nhân vật được đặt tên đường cũng là một tác gia như trường hợp Phạm Văn Đồng nhưng ông để lại tên tuổi trong lịch sử trước hết và chủ yếu là một chính khách. Và nhờ vai trò chính khách này mà tên ông lưu vang trên một con đường của thành phố Quảng Ngãi hôm nay. Phải chăng không có tác gia Quảng Ngãi nào đủ tiêu biểu theo đúng quan điểm hiện nay để đặt tên cho một con đường hay là quan điểm hiện nay quá khắt khe khi đánh giá một nhân vật lịch sử? Từ nỗi băn khoăn này, người viết liên tưởng đến nhà thơ tài hoa bạc mệnh Bích Khê với những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam (Hoài Thanh)(6) mà những nỗ lực chiêu tuyết cho ông của một vài cá nhân đơn lẻ dường như không được chú ý đến mấy(7).
Sắp xếp các nhân vật Quảng Ngãi theo trình tự năm sinh sẽ gợi lên trước mắt chúng ta những khuôn mặt từng gắn bó với quê hương trong quá trình hình thành và phát triển. Chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy không có một nhân vật Quảng Ngãi nào sinh trưởng vào thế kỷ XVI-XVIII ngoại trừ hai vị tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Trương Đăng Đồ. Xin được hình dung như sau: Năm 1471, sau cuộc nam chinh của vua Lê Thánh Tông, vùng đất Quảng Ngãi được chính thức ghi vào bản đồ Đại Việt. Rồi hơn 300 năm đất nước trải qua nhiều biến cố dữ dội, Gia Long chính thức thiết lập vương triều Nguyễn. Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta. Thật khó mà cảm nhận được tính đại diện của hai vị tướng Tây Sơn cho những con người đã từng hiện diện bên bờ sông Trà trong chặng đường gần 4 thế kỷ (1471-1858). Có thể các nhân vật tiêu biểu của giai đoạn lịch sử này, theo tiêu chí đánh giá nào đó, không nổi bật bằng các nhân vật thời cận đại và hiện đại nhưng sự vắng mặt của họ đã để lại một “khoảng trống lịch sử” trong hệ thống tên đường.
Nếu lấy 1,5 thế kỷ (từ năm 1858 cho đến những năm tháng gần đây) là thời gian hoạt động chủ yếu của các chí sĩ yêu nước chống Pháp, các chiến sĩ cách mạng vô sản so sánh với chiều dài hơn 5 thế kỷ Quảng Ngãi nằm trong lòng Đại Việt thì chúng ta thấy tỉ lệ 95% dành cho các nhân vật cận đại và hiện đại là khá cao. Có người cho rằng, hệ thống tên đường chủ yếu phải là các nhân vật cận đại, hiện đại vì đây là giai đoạn lịch sử hào hùng nhất của dân tộc. Hơn nữa, tiêu chí cao nhất hiện nay để đánh giá các nhân vật lịch sử là tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc còn các tiêu chí khác chỉ xếp hạng thứ yếu. Nói như thế không sai như dường như vẫn chưa toàn lý. Diện mạo của một vùng đất đâu chỉ mang dấu ấn của những con người từ “đất võ” mà còn là dấu ấn của những con người thuộc “trời văn”.
4. Hệ thống tên đường Quảng Ngãi cũng thiếu vắng vài gương mặt không phải là người Quảng Ngãi nhưng góp phần tạo nên diện mạo văn hoá lịch sử vùng đất này. Như các chúa Nguyễn củng cố thế lực, kiến thiết đất nước, mở mang bờ cõi về phương nam làm nên sự hoàn chỉnh lãnh thổ đất nước Việt Nam hiện đại. Như Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán mà huân nghiệp gắn liền với vùng đất Quảng Ngãi trong tiến trình mở nước của dân tộc vào thế kỷ XVI. Như Nguyễn Cư Trinh, một kẻ sĩ nặng tình với non sông đất nước với những vần thơ ca ngợi mười cảnh đẹp Quảng Ngãi vẫn còn vang vọng đâu đây. Thật khó mà khẳng định những tên tuổi này lại không có một chút gì cho lịch sử hơn 5 thế kỷ của xứ Cẩm Thành.
5. Hệ thống tên đường phải thể hiện bức chân dung với những đường nét đầy đủ về những nhân vật, những sự kiện, những địa danh tiêu biểu từng có vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc, lịch sử một vùng đất. Với quan niệm như thế, cùng với vài ghi nhận trên đây, những gương mặt trong hệ thống tên đường Quảng Ngãi không bao quát hết dòng chảy từ quá khứ đến hiện tại. Thực tế này do nhiều lý do.
Thứ nhất, không phải tất cả các nhân vật, sự kiện đều được phản ánh trong hệ thống tên đường. Để ghi nhận “tất cả”, dĩ nhiên sẽ có những cách làm khác.
Thứ hai, việc chọn đặt tên đường phụ thuộc vào quan điểm đánh giá các nhân vật lịch sử. Sự thiếu vắng những khuôn mặt đã từng hiện diện bên bờ sông Trà vừa kể trên đây có lẽ là do quan điểm lịch sử để chọn đặt tên đường chịu ảnh hưởng của bộ Lịch sử Việt Nam (Uỷ ban khoa học Xã hội Việt Nam, 2 tập)(8) mà ở đây đã dành cho hầu hết các nhân vật nhà Nguyễn một bản án đanh thép.
Thứ ba, đánh giá những con người thuộc về lịch sử là một công việc phức tạp và nhạy cảm. Ranh giới của việc chọn lựa các nhân vật lịch sử để đưa vào hệ thống tên đường không phải lúc nào cũng thật rõ ràng, dứt khoát và đương nhiên khó tránh khỏi những nhận định chủ quan. Chính vì tính ước lệ và có phần độc đoán này, không thể nào có một danh mục tên đường được tất cả mọi người chấp nhận mà không thể nói thêm điều gì.
6. Nằm trong khu vực ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, ngày xưa người Việt có cả một hệ thống tên gọi phức tạp(9): danh, tự, hiệu… Người nổi danh đôi khi được gọi bằng chức quan nơi sinh, nơi làm việc… Các bậc đế vương còn có thêm niên hiệu, miếu hiệu… Chính vì tính phức tạp này mà chúng ta thấy có rất nhiều kiểu tên gọi khác nhau trong hệ thống tên đường Quảng Ngãi như bảng kê dưới đây.
Bảng 2: Một số kiểu tên gọi sử dụng trong hệ thống tên đường ở thành phố Quảng Ngãi
Ghi chú:*Danh xưng kiểu chữ nghiêng được sử dụng trong hệ thống tên đường Quảng Ngãi.
**Ký hiệu (-): Nhân vật lịch sử không có danh xưng này hoặc chúng tôi chưa tra cứu được.
***Với các vua có nhiều niên hiệu, chỉ ghi một niên hiệu đại diện.
Từ bảng 2, chúng ta thấy đôi điều bất cập.
Bất cập vì thiếu tính thống nhất (trong cách chọn kiểu tên cho hệ thống tên đường). Vì lý do gì lại chọn tên huý (họ tên chính trong bảng 2) là Lê Lợi, Triệu Quang Phục, Lê Hữu Trác thay thế cho danh xưng thuộc nhóm tên hiệu khá quen thuộc đối với mọi người (hay đúng hơn là quen thuộc theo cảm nhận của chúng tôi) là Lê Thái Tổ, Hải Thượng Lãn Ông, Triệu Việt Vương? Vì lý do gì mà né tránh tên huý Nguyễn Huệ, Trần Quốc Tuấn, Lý Công Uẩn để chọn danh xưng (cũng quen thuộc) là Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lý Thái Tổ?
Bất cập vì thiếu tính nhất quán (ngay trong cùng một kiểu tên được chọn lựa). Như trường hợp hai vị vua Trần và Lê được dùng miếu hiệu để đặt tên đường: Trần Nhân Tông và Lê Thánh Tôn. Chúng ta biết rằng sau khi lên ngôi, hoàng tử Miên Tông (tức vua Thiệu Trị) ban bố lệnh kiêng huý trong đó qui định những tên người có chữ TÔNG trùng với ngự danh (tên huý của vua đương triều) đều đổi thành TÔN(10). Vì vậy miếu hiệu của hai vị vua này bị thay đổi và trở thành: Trần Nhân TÔN và Lê Thánh TÔN. Bước sang đầu thế kỷ XX, lệnh kiêng huý không còn nghiêm ngặt nữa và mất hiệu lực hoàn toàn sau năm 1945. Trong hệ thống tên đường Quảng Ngãi, vị vua khai sáng thiền phái Trúc Lâm trở lại miếu hiệu “nguyên dạng” : Trần Nhân Tông, còn vị vua yêu thích văn học, uyên bác cổ kim vẫn lưu lại miếu hiệu “biến dạng” : Lê Thánh Tôn. Có ai ngờ rằng Lê Thánh Tông, người ban hành quyết định bãi bỏ lệnh kiêng huý chữ viết(11), lại là “nạn nhân” của định lệ phức tạp đã mất hiệu lực hoàn toàn cách đây hơn nửa thế kỷ.
Và không thể không nhắc đến một trường hợp bất cập nữa: Lê Đại Hành. Danh xưng này là sự nhầm lẫn đáng trách của hậu thế mà cách đây hơn 700 năm sử gia Lê Văn Hưu đã bàn đến, còn chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (12): “Thiên tử (…) khi mới băng chưa chôn vào Sơn Lăng thì gọi là Đại Hành Hoàng đế (…).Đến khi lăng tẩm đã yên thì họp bầy tôi bàn xem đức hạnh hay dở để đặt thuỵ (…) không gọi là Đại Hành nữa. Lê Đại Hành thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu mà truyền đến ngày nay là làm sao ? Vì Ngoạ Triều là đứa con bất tiếu, lại không có bề tôi nho học giúp đỡ bàn về phép đặt tên thụy cho nên thế”. Như vậy, Lê Đại Hành có nghĩa là ông vua họ Lê vừa băng hà chưa hoàn tất nghi lễ an táng (có bao nhiêu ông vua họ Lê đã từng mang danh xưng như thế?). Trong trường hợp này nên thay miếu hiệu [hay thụy hiệu] Lê Đại Hành thiếu chính xác và phi lý bằng cái tên huý cũng quen thuộc không kém là Lê Hoàn.
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Để đảm bảo tính thống nhất, tại sao không đề ra nguyên tắc chỉ chọn một kiểu tên nhất định để đặt tên đường? Rõ ràng điều này là không tưởng bởi lẽ không phải nhân vật lịch sử nào cũng đầy đủ tất cả các danh xưng trong hệ thống kể trên. Hơn nữa, áp dụng nguyên tắc như vậy sẽ gặp trường hợp buộc phải sử dụng cái tên hoàn toàn lạ lẫm đối với công chúng. Vì vậy, mỗi nhân vật lịch sử cần được chọn một kiểu tên sao cho quen thuộc đối với mọi người. Và khi chọn chúng ta cần lưu ý thêm rằng cách sử dụng danh xưng của người xưa không phải tuỳ tiện mà tuân theo phép tắc nhất định: Khi viết hay gọi người khác, người xưa hầu như không nêu thẳng danh (họ tên chính trong bảng 2) mà thay thế bằng kiểu tên thuộc nhóm tên hiệu. Chú ý nét văn hoá giao tiếp này cũng là bày tỏ sự tôn kính của hậu thế đối với tiền nhân.
Trên thực tế, cách gọi tên tùy theo thói quen và bị chi phối bởi thời gian. Chẳng hạn, bước sang thời hiện đại, những tự, hiệu, biệt hiệu…không còn dùng nữa mà thay thế bằng bút danh, nghệ danh… Các văn nghệ sĩ thường được gọi bằng danh xưng này còn đa số các tầng lớp khác có khuynh hướng được gọi bằng họ tên chính. Đối với các nhân vật hiện đại, trong phong cách khoa học, cách gọi đầy đủ họ tên chính giờ đây lại là biểu lộ sự tôn kính.
7. Từ những nét sơ lược về hệ thống tên đường Quảng Ngãi trên đây, chúng ta có thể nêu lên vài điểm cần lưu ý khi bắt tay vào xây dựng đề án đặt tên đường.
7.1. Với cách nhìn mới, trên cơ sở tư liệu mới của những công trình nghiên cứu về lịch sử văn hoá vùng đất này, chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử khách quan và toàn diện hơn. Tính chặt chẽ và biện chứng của phương án chọn đặt tên đường chỉ có thể là kết quả của sự hiểu biết sâu sắc về quê hương xứ sở.
7.2. Về nguyên tắc, như đã đề cập, hệ thống tên đường phố phải thể hiện bức chân dung đầy đủ về những nhân vật, những sự kiện, những địa danh tiêu biểu từng có vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc, lịch sử một vùng đất. Từ hệ thống tên đường Quảng Ngãi, chúng ta cảm nhận được nét đặc trưng của xứ Cẩm Thành. Để đạt được điều đó, cần xác định một tỉ lệ cân đối giữa các tầng lớp thuộc các lĩnh vực khác nhau: chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội … theo từng giai đoạn lịch sử để xây dựng hệ thống tên đường.
7.3. Những bất cập khi chọn lựa danh xưng nhân vật để đặt tên đường như đã đề cập không phải là không thể giải quyết được, điểm cốt yếu là cần phải có một tiêu chí lựa chọn. Một giải pháp cho vấn đề này là liệt kê các kiểu tên của nhân vật lịch sử rồi lựa chọn danh xưng nào thoả mãn yêu cầu, theo thứ tự ưu tiên, “tính phổ biến đối với công chúng hiện nay” và “nét văn hoá giao tiếp của người xưa”. Dĩ nhiên, những yêu cầu mang tính nguyên tắc này không phải lúc nào cũng áp dụng một cách cứng nhắc mà còn tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Chọn lựa danh xưng mặc dù chỉ là hình thức nhưng không thể quan niệm rằng công việc này nằm ngoài tiêu chí đặt tên đường. Thực ra, đây là tri thức và kỹ năng cần thiết khi bắt tay vào xây dựng đề án đặt tên đường.
8. Bài viết này không đặt vấn đề sửa đổi những bất cập về hình thức cũng như nội dung của hệ thống tên đường Quảng Ngãi. Bởi vì, về phương diện hình thức, những danh xưng mà con đường mang tên đã quen thuộc không nên thay đổi nhằm tránh tình trạng xáo trộn không cần thiết. Còn về phương diện nội dung, “khoảng trống lịch sử” sẽ được lấp đầy bằng cách bổ sung những nhân vật, những sự kiện…tiêu biểu trong những đợt đặt tên đường tiếp theo. Trên đây là một số ý kiến mà chúng tôi hy vọng góp phần (dù chỉ là gián tiếp) để hình bóng quá khứ hiện lên một cách trọn vẹn như vốn có qua những tên đường, tên phố của xứ Cẩm Thành - một vùng đất, một vùng quê của non sông gấm vóc Việt Nam.
Chú thích:
(1)Nghị quyết về đặt tên một số con đường của thị xã Quảng Ngãi được Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua ngày 17 tháng 7 năm 2003, in trên báo Quảng Ngãi, số 1401, ngày 22 tháng 8 năm 2003, trang 5 và 8.
(2)Cao Thị Hồng Hạnh. Phan Thái Ất, người lãnh đạo trung kiên trong cao trào cách mạng 1930-1931 ở Quảng Ngãi. Tạp chí Cẩm Thành. 2003. 34: 102-4.
(3,4)Lê Trung Hoa. Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu đại danh (Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh). Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2003: 76.
(5)Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán. Đại Nam nhất thống chí. Quyển 6 : Tỉnh Quảng Ngãi. Nguyễn Tạo dịch. Nha Văn hoá, Bộ Quốc gia Giáo dục. Sài Gòn.1964: 19 (Văn hoá Tùng thư 22).
(6)Hoài Thanh, Hoài Chân. Thi nhân việt Nam. Hoa Tiên. Sài Gòn. 1968: 237.
(7)Nguyễn Trung Hiếu. Nhà thơ Bích Khê- Một nghi án không có co sở. Văn nghệ Việt Nam , số 37. In lại trong : 70 năm đọc thơ Bích Khê. Nxb Thanh niên. Hà Nội. 2003: 185-91.
Thanh Thảo. Gia đình nhà thơ Bích Khê- Một gia đình cách mạng. Văn nghệ Việt Nam , số 38. In lại trong : 70 năm đọc thơ Bích Khê, Sđd: 192-5.
(8)Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt nam. Lịch sử Việt Nam. Tập I, tập II. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1971, 1985.
(9)Về hệ thống tên gọi người Việt, có thể tham khảo: Lê Trung Hoa. Họ và tên người Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 2002.
(10,11)Ngô Đức Thọ. Nghiên cứu chữ huý Việt Nam qua các triều đại. Nxb Văn hoá. Hà Nội. 1997: 67-70, 147.
(12) Đại Việt sử ký toàn Thư. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1998: 231.
Blog Người Cẩm Thành